để tặng cho tác giả tài liệu này

Đã đánh giá tài liệu
Cảm ơn bạn đã phản hồi
Tác giả: Nguyễn Châu Linh, Khiêm Nguyễn, Danny Võ
Nhà cung cấp: DBI
“Con người có tổ có tông, như cây có cội như sông có nguồn”, vậy làm thế nào để muôn đời sau con cháu vẫn có thể tìm về nguồn cội? Cuốn Gia phả học tinh hoa sẽ giúp triệu gia đình Việt bảo tồn gia bảo, gìn giữ gia phong, chấn hưng dòng tộc! Quốc gia hay gia tộc, dòng họ thịnh suy đều phụ thuộc vào việc thế hệ nối tiếp thế hệ biết trân quý cái gốc tiền nhân đã cất công xây dựng. Gia phả vừa là một công cụ gìn giữ truyền thống dòng họ, vừa đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học về con người và xã hội. "Gia phả học Tinh hoa" đóng gói những nội dung cơ bản về Gia phả học: Lịch sử hình thành và phát triển gia phả; tầm quan trọng của gia phả đối với đời sống của từng cá nhân, gia đình, dòng họ và dân tộc; mối quan hệ của gia phả học với các ngành khoa học khác; phương pháp xây dựng gia phả và ứng dụng công nghệ trong xây dựng gia phả..., giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với môn Gia phả học.
Quan niệm lập phả của người Việt Nam dựa trên nếp sống, sinh hoạt gia đình của con người từ thời xa xưa. Nếu ở phương Tây, con người luôn dựa vào thương nghiệp làm nền tảng thì ở Việt Nam lại dựa trên nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm gốc. Do đó, nếp sinh hoạt của nước ta khác hẳn với người phương Tây. Người phương Tây làm gia phả ngoài việc để biết gốc tích của mình do đâu mà có, khát khao truy tìm gốc tích là động lực hiển nhiên, nhưng gia phả phương Tây cũng mang mục đích chính trị, như khẳng định quyền lực hay vị thế của một gia tộc trong xã hội.
Trong khi tư tưởng làm gia phả ở Việt Nam lại bao hàm một tư tưởng rất sâu sắc từ nguồn từ trong gia đình, gia tộc. Nói về gia đình tổ tiên, người Việt Nam từ xưa tới nay vẫn coi gia đình là cái gốc của con người và bất luận thế nào, đối với cá nhân hay tập thể, gia đình vẫn có mối liên hệ mật thiết, đồng thời là nơi trung gian giữa người chết (tổ tiên) và người sống (con cháu). Người xưa nặng về quan niệm sống trọn nghĩa tình “vấn tổ tầm tông”, gia đình phải luôn có trách nhiệm hun đúc nuôi dưỡng con cháu để duy trì cái gốc ấy, đồng thời gia đình cũng phải tích cực bảo vệ những đức tính tốt đẹp cùng với những phong tục tập quán tốt để hướng con cháu noi theo.
Theo người xưa, gia phả ngoài việc nhắc nhở con cháu nhớ phần mộ, giỗ chạp ông bà tổ tiên còn phản ánh cả tư tưởng, đạo đức của tiền nhân cùng nền nếp sinh hoạt của toàn tộc. Hay nói cách khác thì gia phả phản ánh nếp sinh hoạt của một người trong một gia đình, gia tộc, cho nên gia phả phải được xây dựng trên căn bản ấy, mà trong đó cổ nhân chú trọng nhất đến “Phần người chết và nhiệm vụ của người sống”. Do đó, gia phả cũng phải quy định những ước thúc (kỷ luật) để chỉ rõ nhiệm vụ của người sống (tức con cháu) phải bảo tồn dòng dõi để luôn có người giữ gìn hương khói cho người chết (là tổ tiên).
4.1. Gia phả Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ X
Hồng Bàng được biết là triều đại đầu tiên ở nước ta, với 18 đời vua Hùng, trong nước đã có một thể chế khá rõ ràng. Trong mỗi nóc nhà có gia tộc, gia trưởng, ở ngoài làng xã có chế độ Lạc hầu, Lạc tướng cai quản. Người Việt cổ sống định cư từ miền cao nguyên cho tới miền trung châu trên lưu vực sông Nhị Hà và sông Mã.
Người Việt luôn coi trọng việc thờ cúng tổ tiên. Đây là một việc làm linh thiêng, vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt. Những câu chuyện cổ tích như “Sơn Tinh, Thủy Tinh” hay “Sự tích bánh chưng bánh giày”, giúp ta phần nào hiểu được thời Văn Lang, ở Việt Nam tuy chưa có gia phả (vì lúc đó chưa có văn tự) nhưng người Việt Nam đã có một ý niệm nhất quán về việc gìn giữ lịch sử của tổ tông, tộc hệ, dòng dõi. Có thể những ý niệm đó đã nảy mầm và bắt rễ từ trong dân gian, sau dần lớn lên thành ý thức phả hệ. Vì thế, có thể coi giai đoạn Hùng Vương là chặng đầu của ngành gia phả học ở Việt Nam - đây là một giai đoạn vô cùng quan trọng để mở đường cho “công cuộc” làm gia phả của nước ta sau này.
Đến năm 179 TCN, Nam Việt xâm lược Âu Lạc và giành chiến thắng đã bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm, văn hóa Trung Quốc truyền bá sang nước ta dễ dàng hơn so với thời kỳ trước. Có thời gian, nhà Hán bắt dân ta phải làm theo mọi phong tục, lễ nghi, tôn giáo, nghệ thuật, văn tự, học thuật, mà trong đó điều đáng chú ý là chế độ tông pháp của nhà Chu, vì chính chế độ này đã có tác dụng bồi dưỡng cho cái gốc gia phả Việt Nam lớn mạnh thêm.
Như vậy, ngoài việc chống đồng hóa thì dân ta cũng học tập được nền văn hóa tiến bộ của Trung Quốc mà vấn đề gia phả (dưới hình thức thờ cúng tổ tiên) được vun đắp ngày càng sâu sắc. Bên cạnh việc truyền bá văn hóa Trung Quốc, người Hán cũng mang theo chữ viết tới nước ta. Những người Việt thông thạo chữ Hán thời đó sang Trung Quốc thi cử làm quan. Một số người đã làm quan cho nhà Hán như Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng. Theo nhà nghiên cứu Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, có thể những người này đã được tiếp xúc với nền gia phả Trung Quốc. Đặc biệt có thể đã được biết đến các cuốn gia phả đầu tiên của Trung Quốc là Thế gia, Thế bản, Thế biểu. Từ đó, ông cho rằng rất có thể gia phả Việt Nam đã xuất hiện trước thời Lý, Trần.
4.2. Gia phả Việt Nam thời kỳ phong kiến độc lập
Năm 905 đánh dấu sự kiện khởi đầu nền tự chủ ở nước ta bởi mặc dù vẫn mang danh nghĩa thuộc Đường. Tuy không xưng vương như Ngô Quyền sau khi đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 nhưng thực chất Khúc Thừa Dụ đã giành độc lập dân tộc. Đến thời nhà Lý, đất nước ổn định, kinh tế có bước phát triển, quân sự đất nước vững mạnh hơn có thể chống lại sự xâm lược của phương Bắc. Do đó các vị vua đã có điều kiện quan tâm tới việc lập phả.
Năm Thuận Thiên thứ 17 (1026), vua Lý Thái Tổ lệnh cho biên soạn “Lý triều ngọc điệp”. Năm 1267, vua Trần Thánh Tông cho biên soạn “Hoàng triều ngọc điệp”. Đời Cảnh Hưng (1740 – 1786), vua Lê Hiển Tông sai Trịnh Viêm và Nguyễn Hài biên soạn “Hoàng Lê ngọc phả”.
Dưới triều vua Gia Long (1802 - 1820), nhiều cuốn phả họ Nguyễn Phúc được dâng lên như “Hoàng triều Đại tông đồ”, “Hoàng gia phả hệ”, “Hoàng triều ngọc phả”. Thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), việc biên soạn gia phả có quy củ hơn. Nhà vua giao cho Quốc sử quán soạn bộ “Liệt thánh thực lục” và “Ngọc phả”. Năm 1836, nhà vua còn lập bộ phận “Tôn thân phủ” chuyên lo việc ghi chép Hoàng triều tôn phả và quản lý những người trong họ. Hoàng triều tôn phả cứ 5 năm bổ sung một lần. Phòng nào có con cháu sinh thêm hoặc có người tạ thế, có thêm dâu, rể hoặc có những thay đổi quan trọng về nghề nghiệp đều phải trình với Tư giao của Hệ mình để ghi vào sổ, chuẩn bị cho kỹ để bổ sung kế tiếp.
Theo tổ chức của Nguyễn Phúc tộc thì một vị chúa hay một vị vua đứng đầu một hệ (tôn thất) - từ Gia Long về sau đều gọi là hệ chánh. Mỗi hệ gồm nhiều Phòng. Đứng đầu mỗi Phòng là một hoàng tử. Mỗi Phòng lại có nhiều chi. Chép người đại diện cho mỗi đời trước có phần thân thế và sự nghiệp bao gồm: tên húy, tên thân phụ, thân mẫu, ngày giờ sinh, sự nghiệp. Tiếp đến là ngày giờ mất, lăng, miếu thờ, cùng các tước hiệu. Sau đó mới chép về gia đình bao gồm: phần hậu, phi, phu nhân, phần con cái thường chép con trai riêng, con gái riêng.
Theo tác phẩm “Chín đời Chúa, Mười ba đời Vua Nguyễn” của tác giả Nguyễn Đắc Xuân, dòng họ Nguyễn làm chúa, làm vua trong một thời gian khá lâu (từ 1558 đến 1945), con cháu rất đông. Để khỏi nhầm lẫn về thế, thứ, thân, sơ và người trong họ, các chúa và các vua Nguyễn đã ban những nguyên tắc đặt tên và tên đệm cho con cháu trong dòng họ mình. Việc đặt tên đệm do vua Minh Mạng chủ trương để áp dụng cho 20 đời tính từ vua Thiệu Trị về sau. Theo lời văn khắc trên đồng sách (bài ngự chế tự) thì việc này làm theo ý của vua Gia Long. Những con cháu thuộc các thế hệ từ vua Minh Mạng trở về trước: Gồm con chín đời Chúa, anh em vua Gia Long và anh em vua Minh Mạng. Chúa Tiên (1558 – 1613) từ ngoài Bắc vào mang họ Nguyễn, tức Nguyễn Hoàng. Tương truyền rằng, khi bà vợ ông nằm mơ thấy thần nhân cho tờ giấy viết đầy cả chữ Phúc, nhiều người đề nghị lấy chữ Phúc đặt tên cho con thì bà cho rằng: Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng Phúc, chi bằng lấy chữ Phúc đặt làm tên đệm thì mọi người đều được hưởng Phúc. Bà đặt tên cho con là Nguyễn Phúc Nguyên, nhánh họ Nguyễn vào Nam làm Chúa đổi thành Nguyễn Phúc bắt đầu từ đó. Từ Nguyễn Phúc Nguyên xuống đến Vua Minh Mạng đều mang họ Nguyễn Phúc (Vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Đảm). Những hậu duệ của chín đời Chúa cùng họ Nguyễn Phúc với vua Minh Mạng được nhà vua đặt là Tôn Thất. Con gái của Tôn Thất là Tôn Nữ, một số thân tộc thuộc dòng những con trai khác của Nguyễn Hoàng còn ở lại đất Bắc (như dạng làm con tin) thì đổi ra họ Nguyễn Hựu.
Vua Minh Mạng làm riêng cho trực hệ của mình bài “Đế hệ thi” 20 chữ dành cho 20 đời. Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh, Bảo Quý Định Long Trường, Hiền Năng Kham Kế Thuật, Thế Thụy Quốc Gia Xương. Con vua Minh Mạng có tên đệm là Miên như Miên Tông (Vua Thiệu Trị), Miên Thầm (Tùng Thiện Vương), Miên Trinh (Tuy Lý Vương). Cháu nội vua Minh Mạng có tên đệm là Hường như Hường Nhậm (Vua Tự Đức). Chắt nội tên đệm là Ưng như Ưng Chân (Vua Dục Đức). Chỉ có những người trong Đế hệ thi mới được làm vua: Miên Tông (Thiệu Trị), Hồng Nhậm (Tự Đức), Ưng Chân (Dục Đức), Bửu Lân (Thành Thái), Bửu Đảo (Khải Định), Vĩnh San (Duy Tân), Vĩnh Thụy (Bảo Đại). Con gái, cháu gái của vua Minh Mạng cũng có một cách đặt tên riêng. Ngoài ra Minh Mạng còn làm 10 bài “Phiên hệ thi” cho con cháu của anh em ruột của mình.
Con gái của vua Minh Mạng hay của các vua con cháu của vua Minh Mạng cũng đều áp dụng theo một cách đặt chữ lót sau đây:
Con gái của vua là Hoàng nữ, khi được sắc phong thì trở thành Công chúa và có tên hiệu riêng. Ví dụ: Hoàng nữ Trinh Thận (em ruột Miên Thẩm) được sắc phong là Lại Đức Công chúa. Công chúa về sau có anh hay em làm vua thì được gọi là Trưởng Công chúa (để phân biệt với Công chúa, con vua đang trị vì), có cháu làm vua (vua gọi bằng cô) thì được gọi là Thái trưởng công chúa (trở thành cô của vua tại vị). Con gái của các hoàng tử là Công Nữ Thị, cháu gái là Công Tôn Nữ Thị, Công Huyền Tôn Nữ Thị. Tôn Nữ Thị dùng cho người phụ nữ thuộc về các hệ Tôn Thất (Tôn Thất Cổn, 1943).
Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến ghi chép gia phả trong nhân dân. Giai đoạn phát triển mạnh qua các đời vua chúa Lý, Trần, Lê, Trịnh, Nguyễn cho tới gần cuối đời nhà Nguyễn, khi các khoa thi chữ Hán chấm dứt (1919), gia phả chữ Hán vẫn còn tồn tại và xuất hiện các bộ gia phả bằng quốc ngữ khác, ví dụ như “Hoàng tộc lược biên”, “Cao gia tộc phả” của dòng họ Cao Triều Phát ở Bạc Liêu, “Trịnh gia chính phả” (chúa Trịnh) của Trịnh Như Tấu,…
Trước đây, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ Hán – chữ Nôm nhưng qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ phận gia phả của các dòng họ bị mất dần. Sau ngày đất nước thống nhất và nhất là từ khi tiến hành đổi mới đất nước đến nay, xu hướng trở về cội nguồn, phục hưng các sinh hoạt dòng họ diễn ra sôi nổi. Thể hiện rõ nhất của xu hướng này trước hết là việc sửa chữa, trùng tu, xây mới nhà thờ, mồ mả tổ tiên, tiếp đến là việc dịch ra tiếng Việt, sưu tầm viết lại các gia phả, truy tìm gốc tích tổ tiên ở các nơi. Tuy nhiên, phần lớn những người quan tâm thực hiện những việc trên lại là những cụ già sức tàn lực kiệt hoặc đã nghỉ hưu, trong khi lớp người trẻ tuổi ngày càng rời xa gia đình, dòng họ chạy theo cơn lốc kinh tế thị trường mà ít quan tâm đến cội nguồn.
Gia phả nước ta có nhiều nhất ở miền Bắc và miền Trung. Sách “Di sản Hán Nôm Việt Nam: Thư mục đề yếu” [3] đã tập hợp được 286 bộ Ngọc phả, Thần phả, Thánh phả và Gia phả của các dòng họ Lê, Nguyễn, Trần, Vũ, Đinh, Phạm Hồ, trong đó có bộ gia phả rất quý là “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền”.
Ở Nam Bộ, vùng đất mới trên 300 năm, đầu thế kỷ XIX cũng đã có những bộ gia phả của các họ làm quan triều Nguyễn như: gia phả họ Trịnh (Trịnh Hoài Đức) ở Biên Hòa, năm 1825; gia phả họ Phạm (Phạm Đăng Hưng) ở Định Tường, năm 1825. Dù người Việt Nam đã biết chép phả từ sớm nhưng người Việt Nam đầu tiên hoàn thành một công trình về gia phả học là cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ (1919 – 2001) với cuốn gia phả khảo luận và thực hành được xuất bản năm 1972. Cuốn sách đã trình bày một cách có căn cứ khoa học, lịch sử ra đời và phát triển của ngành khảo cổ học trên thế giới cũng như trong nước. Từ đó nhận xét cái chung và cái riêng và đưa gia phả Việt Nam vào guồng quay của gia phả thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc lập gia phả đối với dòng họ cũng như đất nước, vào năm 1992, Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập, với tên lúc đầu là “Nhóm Nghiên cứu và Thực hành gia phả thành phố Hồ Chí Minh”, trưởng nhóm là ông Võ Ngọc An. Trải qua nhiều năm hoạt động, Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp nhiều bộ gia phả có tầm quan trọng to lớn trong lịch sử nói chung và lịch sử gia phả Việt Nam nói riêng.
4.3. Gia phả Việt Nam ngày nay
Hiện nay, gia phả học Việt Nam đang được quan tâm rộng rãi hơn. Rất nhiều trung tâm gia phả, các trang mạng được thành lập với mục đích giới thiệu cũng như hướng dẫn mỗi người lập một bản gia phả cụ thể cho dòng họ của mình. Hơn một thập kỷ qua, việc nghiên cứu gia phả theo phương pháp khoa học trở thành những chương trình có tổ chức liên ngành, liên quốc gia như “Chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam” do Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất và chủ trì, cộng tác với các nơi như Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO), Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Alberta (Canada). Với sự đóng góp kinh phí của EFEO, của Quỹ Ford và tổ chức Đại học khối Pháp ngữ (AUF), nhiều bộ gia phả cổ có giá trị lần lượt được biên dịch và xuất bản như: Đinh tộc gia phả, Danh sách tổ tiên họ Lò Cầm ở Mai Sơn; Lê thị gia phả, Vũ tộc thế hệ sự tích, Nguyễn gia phả ký, Mạc thị gia phả.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả thuộc Hội Khoa học Lịch sử Thành phố sau nhiều năm lăn lộn cũng đã làm được nhiều công trình mang tính chất phục hồi, truy tìm, xây dựng gia phả. Ngày trước miền Nam đổi mới, ít nhà có phả hoặc giữ được gia phả, hiếm hoi có được thì cũng chỉ là bảng “Tổng chi tông đồ” phú ý, ghi vắn tắt tên tuổi, ngày giỗ, nơi chôn cất ông bà vài đời, việc dựng phả cho những dòng họ có nhân vật quan hệ với lịch sử vùng đất này là một mục tiêu được lưu tâm. Trong hơn hai trăm bộ gia phả mà Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành gia phả đã thực hiện, có vài bộ đáng lưu ý như gia phả dòng họ danh tướng Nguyễn Huỳnh Đức, gia phả dòng họ chí sĩ Nguyễn An Ninh và bà Trương Thị Sáu (vợ ông Ninh), dịch và soạn tiếp tộc phả danh tướng Trương Minh Giảng, dịch bộ tộc phả danh thần triều Nguyễn Trần Tiến Thành. Hiện nay, tại thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh đã sưu tầm khoảng 2000 ấn phẩm Hán - Nôm gồm gia phả và các bản văn khác.
Việc “vấn tổ tầm tông” là một nhu cầu tâm linh truyền đời của người Việt. Xét về căn nguyên thì ghi chép gia phả là chuyện riêng của từng tộc họ, vì nhiều lý do, người xưa kiêng kỵ việc cho người ngoài xem gia phả của dòng họ mình. Giữ gìn gia phả là trách nhiệm thiêng liêng, nhiều cụ già kể rằng vào thời chiến tranh loạn Nam Bắc phân ly, người trưởng tộc, người con cả giữ gia phả ở đầu giường, trong tay nải, ngộ cơ bất trắc thì quyển phả là một trong những món phải chịu rời bỏ sau cùng. Trong cảnh lưu lạc tha hương, quyển phả như là một báu vật của niềm mong mỏi thân thích trùng phùng, có quyển gia phả bên mình, người ta như còn được tổ tiên phù trợ, như được gần chốn quê hương nguồn cội. Ngày nay, khi đời sống được cải thiện, “phú quý sinh lễ nghĩa”, mọi người đã có nhiều điều kiện để nhìn lại dòng tộc mình hằng mong tìm lại cội nguồn – cái nôi đã sản sinh ra mình, ra gia tộc của mình. Và gia phả chính là phương tiện để ghi lại dòng tộc đang hiện hữu trong tâm thức của mỗi chúng ta. Đó cũng là những nét đẹp trong văn hoá truyền thống của người Việt Nam.
Tiểu kết:
Gia phả học có mối quan hệ và sự tương tác qua lại với các ngành khoa học về con người. Gia phả xuất hiện ở phương Tây và phương Đông từ xa xưa và phát triển cho tới ngày nay. Gia phả học là một môn học cổ xưa của thế giới. Trên thế giới, ngành gia phả học Trung Quốc có lịch sử lâu đời nhất và cũng đã bắt nguồn cho lịch sử hình thành của ngành gia phả học phương Đông, trên nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam... Ở Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả hệ hay phả đồ. Trong thời Trung cổ ở Châu Âu, các câu hỏi về thân tộc gốc đã trở nên có tầm quan trọng lớn về chính trị. Điều này đặc biệt khi tuyên bố tính hợp pháp của việc thừa kế quyền lực, của cải, lãnh địa. Gia phả học Châu Âu chính thức ra đời vào nửa sau thế kỷ XVI với các cuốn “Lịch sử tổng quát các vương quốc Jerusalem, Chypre, Arménie (1575 – 1579)” của tác giả De Lusignan, một nhà tu hành người Pháp ở vương quốc Chypre với việc khảo cứu về nguồn gốc các vua chúa, thân vương và các nhà đại quý tộc. Ngành gia phả học Âu châu phát triển ở thế kỷ XVIII và trở nên cực thịnh ở thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, gia phả có trước và nhiều nhất ở miền Bắc và miền Trung. Việc ghi chép gia phả xuất hiện đầu tiên vào thời nhà Lý, bằng việc vào năm 1026, vua Lý Thái Tổ cho biên soạn “Hoàng triều ngọc điệp”. Các triều đại tiếp theo tiếp tục có ghi chép gia phả của hoàng tộc: nhà Trần có “Hoàng tông ngọc điệp”, nhà Lê có “Hoàng Lê ngọc phả”,… Dần dần xuất hiện gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến trong dân gian. Cuốn sách “Di sản Hán Nôm Việt Nam: Thư mục đề yếu”, đã tập hợp được 286 bộ gồm Ngọc Phả, Thần Phả, Thánh Phả và Gia Phả của các dòng họ Nguyễn, Lê, Trần, Vũ, Đinh, Phạm, Hồ… Trước đây, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ Hán – chữ Nôm nhưng qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ gia phả của các dòng họ cũng mất dần. Nếu như tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung thì ở miền Nam vẫn có số ít gia đình làm gia phả mà biến thái thành “tông chi” tức “tông chi tông đồ”. Dù người Việt Nam biết chép gia phả từ rất sớm nhưng người Việt Nam đầu tiên hoàn thành một công trình về gia phả học là cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ (1919 – 2001), với tác phẩm “Gia phả – khảo luận và thực hành”.
Hiện nay, gia phả học Việt Nam đang được quan tâm rộng rãi hơn. Rất nhiều trung tâm gia phả, các trang mạng được thành lập với mục đích giới thiệu cũng như hướng dẫn mỗi người lập một bản gia phả cụ thể cho dòng họ của mình. Bộ môn gia phả học đang được phát triển mạnh ở khắp nơi trên thế giới. Lý do là ngày càng có nhiều người trong xã hội, trong gia đình nhận thấy gia phả là tài liệu quý báu cho nhiều ngành học. Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyện dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở thành những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học. Một lý do nữa là với tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật ghi chép, sưu tầm những tin tức, tra cứu lịch sử,... càng ngày càng thuận lợi hơn.
—---------------------
[3] Trần Nghĩa (1993), Di sản Hán Nôm Việt Nam: Thư mục đề yếu, NXB Khoa học Xã hội..
Ý kiến (0)